Chủ Nhật, ngày 06 tháng 5 năm 2012

Phân tích bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” của cụ Phân Châu trinh

Phân Châu Trinh (1872 - 1926) quê ở Quảng Nam, biệt hiệu là Hi Mã. Cụ là một trong những chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của nước ta trong ba thập niên đầu thế kỉ XX.
Cụ để lại nhiều thơ văn yêu nước và cách mạng. Cụ là chiến sĩ tiên phong nêu cao ngọn cờ duy tân… mở mang dân trí, tự cường, chống thực dân và bọn vua tay sai:

“Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền
trông gió cũng gai ghê;
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ
khâu đèn thêm sáng chói”.
(“Văn tế Phan Châu Trinh” - Phan Bội Châu)
Bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” là một phần trích trong tác phẩm “Đạo đức và luân lí Đông Tây” của Phân Châu Trinh viết năm 1925.
Chúng ta có thể coi đây là một văn bản bình luận về một vấn đề chính trị -  xã hội, một vấn đề mang tính lịch sử bức thiết của nhân dân ta thời bấy giờ.
1. Phần đầu văn bản, cụ Phan nêu lên vấn đề: “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”. Hai chữ “tuyệt nhiên” là cách nói khẳng định của tác giả. Khái niệm“luân lí xã hội” tức là luân lí, đạo đức của chủ nghĩa xã hội coi trọng sự bình đẳng và ý thức nhân quyền, không chỉ thể hiện mối quan hệ của con người trong mỗi gia đình, trong mỗi quốc gia mà còn là mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội rộng lớn.
Cụ Phan bình luận: “Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được”. Còn tư tưởng “bình thiên hạ” trong câu: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng Mạnh thì “mất đi đã từ lâu rồi”. Hai tiếng “võ vẽ” trong câu: “Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó (hai chữ “thiên hạ”) nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đấy thôi” đã thể hiện thái độ châm biếm, khinh bỉ đối với bọn đạo đức giả trong xã hội thực dân phong kiến.
2. Phần thứ hai, Phân Châu Trinh chứng minh và bình luận thực trạng luân lí, đạo đức của xã hội ta thời bấy giờ (thời Pháp thuộc).
- Tác giả cho biết xã hội luân lí bên châu Âu rất thịnh hành và phát triển. Về mỗi người dân đều “có đoàn thể”, có ý thức về nhân quyền (dân chủ và bình đẳng) đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Còn dân mình thì “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai!” Thật đáng buồn là dân ta đi đường gặp người bị nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua”…
+ Sống thì phải biết bênh vực nhau. Ông cha mình ngày xưa đã hiểu đến nên mới có những câu tục ngữ: “Không ai bẻ đũa cả nắm”,”Nhiều tay làm nên bộp”. Tác giả dùng lập luận tương phản để nêu lên hiện tượng đáng buồn của dân ta.
“Thế thì dân tộc Việt Nam ngay hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, gom cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay”.
+ Tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự thoái hoá luân lí xã hội ở nước ta trong ba bốn trăm năm trở về đây là do bọn học trò (tầng lớp kẻ sĩ, trí thức trong xã hội phong kiến, trong chế độ thực dân nửa phong kiến) gây ra: mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa, giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân. Chúng tham lam, hám địa vị “muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân”.
+ Đám quan trường bị tác giả “phơi mặt”, lên án một cách nghiêm khắc. Chúng vô trách nhiệm và coi thường nhân dân. Chúng ra sức vơ vét làm giàu. Chúng ham mồi phú quý. Cụ Phan Châu Trinh đã tạo nên những câu cảm thán, sử dụng tài tình điệp ngữ và tăng cấp làm cho lí lẽ sắc bén, giọng văn khinh bỉ sâu cay:
“Dân khốn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi, “một nhà làm quan một nhà có phước”, “dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai”. Đạo đức suy đồi đến cùng cực, bọn hãnh tiến, bọn cơ hội nhan nhản đó đây: “Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được”.
Bọn quan lại ấy là lớp người như thế nào? Hoặc là bọn Nho học “đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ”. Hoặc là bọn Tây học “đã được cái chức kí lục, thông ngôn; có khi là bồi bếp dựa vào thần thế của chủ cũng gây ra làm quan nữa”. Đầu thế kỉ XX, tác giả bài thơ “Á tế Á ca” đã châm biếm viết:
“Kẻ chức bồi, người tước cu li,
Thông ngôn, kí lcụ chi chi,
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang!”
Hai ba mươi năm sau Phan Châu Trinh đã khinh bỉ gọi đám quan trường ấy là “lũ ăn cướp có giấy phép”. Lũ tham quan ô lại trong xã hội thực dân phong kiến đã bị cụ giáng cho một đòn trí mạng, làm cho “nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê!”
Một thực trạng đáng buồn nữa là có không ít người trong xã hội cũng “bén mùi làm quan”Có bài ngà, có Bắc đẩu bội tinh đeo lủng lẳng trước ngực thì lấy thế làm vinh, chạy chọt được cái Cửu phẩm, thì nở mày nở mặt, mổ trâu bò ăn khao! Vì thế, anh nhiêu, ông xã, những kẻ ở vườn “Nào lo cho quan,nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi”.
Vì thế nền đạo đức, luân lí sao không khỏi băng hoại. Nhà cách mạng cay đắng cất lời than:“Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế”. Những lời cảm thán cất lên vừa đau buồn, cay đắng, vừa chua xót!
3. Phần cuối văn bản, Phan Châu Trinh đưa ra hướng chữa trị căn bệnh “luân lí xã hội ở nước ta”: phải có đoàn thể, phải truyền bá xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã dùng cách lập luận móc xích làm cho lí lẽ sắc bén, thuyết phục: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”.
Sau hơn tám mươi năm (1925 - 2007) đọc bài “Về luân lí xã hội ở nước ta”, ai cũng cảm thấy mình đang được tham dự buổi diễn thuyết của cụ Phan Châu Trinh vào  tháng 11 năm 1925 tại Sài Gòn.
Bút pháp nghị luận của Phan Châu Trinh thật đặc sắc: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, mọi dẫn chứng nêu ra thật chí lí, đích đáng đầy sức thuyết phục. Tác giả đã dùng lời lẽ và giọng văn chua cay để châm biếm thực trạng luân lí xã hội ở nước ta thời bấy giờ. Bọn quan trường đã bị giáng những đòn đau điếng.
Đọc bài văn của Phan Châu Trinh, ta càng thấy rõ công việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, cuộc sống mới là vô cùng cấp thiết và quan trọng. Đạo đức là cái gốc của con người; luân lí là nền tảng của xã hội. Có đả phá được những tư tưởng hủ lậu, có xây dựng được nền luân lí, đạo đức xã hội chủ nghĩa thì mới có thể làm cho đất nước phát triển, giàu mạnh, và làm cho dân tộc Việt Nam ngày một văn minh.

Phân tích bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu


Phân tích bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu


Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" - đứa con đầu lòng mà "ông hoàng thơ tình" đã ban tặng cho nhân gian. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ, thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của hồn của cái "TÔI" trữ tình Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào...thật đến từng hơi thở!

Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Từ nghìn năm tước, các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó là điều thật mới mẻ, thật mãnh liệt. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. Trong thơ ca trung đại, nét nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo:

"Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi."

Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trăng hoa, thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm với đời, một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy. Dường như lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn "tắt nắng", "buộc gió" trở nên quá táo bạo, đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh vật...muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ước muốn níu giữ thời gian, chặn vòng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. Với ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng và tận hiến. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian. Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khêu gợi.
Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”:

"Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si."

Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Trong đoạn thơ, điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu - cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5). Đặc biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì ... tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say!

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân."

Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời - vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. Hình ảnh "thần vui hằng gõ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn ..." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa". Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa". Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc, đã vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân." Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu:

"Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua.
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"

Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ. Quen vì người xưa đã từng thở dài "xuất thì bất tái lai". Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, thi sĩ bâng khuâng, tiếc nuối ... Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” vì xa cách, phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”, còn “chim” thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn... Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa..." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ - mà vạn vật là muôn đá nam châm." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi. Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng "tôi" - cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. Đến đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. -
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"


"Ta muốn ôm.
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì - sự sống giữa thời tươi vào lòng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân... Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với cuộc đời. Đây quả là một khát khao vô biên, tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước, và cây, và cỏ rạng." Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân - tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn.

Với bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". Mới lạ nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu - vội vã với nhịp đập của thời gian.

[PT] Đây thôn Vĩ Dạ



Hàn Mặc Tử – một trái tim, một tâm hồn lãng mạn dạt dào yêu thương đã
bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những
phút giây đau xót và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình
vào trong thơ, những phút giây ông đã chắt lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của
tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ
Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái
tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình
riêng đã ở trong mối tình chung mà hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau.
   Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ tình hay nhất của Hàn Mặc
Tử. Một tình yêu thiết tha man mác, đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung
cảnh thiên nhiên hòa với lòng người, cái thực và mộng, huyền ảo và cụ thể
hòa vào nhau. Mở đầu bài thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật
trữ tình:
                   Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
   Chỉ một câu hỏi thôi! Một câu hỏi của cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa
bao yêu thương mong đợi. Câu thơ vừa có ý trách móc vừa có ý tiếc nuối
của cô gái đối với người yêu vì đã bỏ qua không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp
mặn mà, ấm áp tình quê của thôn Vĩ – vùng nông thôn ngoại ô xinh xắn thơ
mộng, một phương diện của cảnh Huế.
   Chúng ta hãy chú ý quan sát, tận hưởng vẻ đẹp của thôn Vĩ:

                   Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
                   Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
                   Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

   Nét đặc sắc của thôn Vĩ – quê hương người con gái gợi mở ở câu đầu
tiên đến đây đã được tả rõ nét. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác rộng mở
trước mắt người đọc. Hình ảnh nắng tưới lên trên ngọn cau tươi đẹp, tràn
đầy sức sống. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau
cao vút vươn mình đón lấy những tia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh
nắng vàng buổi bình minh. Cái “nắng hàng cau nắng mới lên” sao lại gợi
một nỗi niềm làng mạc quê hương đến thế. Câu thơ này bất chợt khiến ta
nghĩ tới những câu thơ của Tố Hữu trong bài Xuân lòng:
                   Nắng xuân tưới trên thân dừa xanh dịu
                   Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh
                   Ánh nhởn nhơ đùa quả non trắng phếu
                   Và chảy tan qua kẻ lá cành chanh.
   Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một
năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rỡ nồng nàn. Đó là những tia
nắng đầu tiên chiếu rọi xuống làng quê mà trước hết nó chiếu vào những
vườn cau làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như
những viên ngọc được đính vào chiếc áo choàng nhung xanh mịn:

                    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

    “Cái nhìn như chạm khẽ vào sắc màu của sự vật để rồi bật lên một sự
ngạc nhiên đến thẩn thờ”. Đến câu thơ này, ta bắt gặp cái nhìn của thi nhân
đã hạ xuống thấp hơn và bao quát ở chiều rộng. Một khoảng xanh của vườn
tược hiện ra, nhắm mắt vào ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt
mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ
đẹp mà nó còn tràn trề sự sống mơn mởn. Những tán lá cành cây được
sương đêm gội rửa trở thành cành vàng lá ngọc. Không phải xanh mượt,
cũng không phải xanh mỡ màng mà chỉ có “xanh như ngọc” mới diễn tả
được vẻ đẹp ngồn ngộn, sự sống của vườn tược. Một màu xanh cao quý,
không một chút gợn, một màu xanh tỏa ánh tạo nên vẻ đẹp óng ánh, lấp
lánh, trong trẻo làm cho vườn cây càng sáng bóng lên. Hình như cả vườn
cây đều tắm trong luồng không khí đang còn run rẩy sự trinh bạch nguyên
sơ chưa hề nhuốm bụi. Lăng kính không khí ấy làm hiện rõ hơn đường nét
màu sắc của cảnh sắc mà mắt thường chúng ta bỏ qua. Nếu không có một
tình yêu sâu nặng nồng nàn đối với Vĩ Dạ thì Hàn Mặc Tử không thể có
được những vần thơ trong trẻo như vậy. Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở Việt
Nam, đặc biệt là ở xứ Huế thì mới thấm thía những vần thơ này:

                    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia nhánh lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại
có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon
thả che ngang khuôn mặt chữ điền. “Mặt chữ điền” – khuôn mặt ấy chỉ hiện
ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực.
    Thôn Vĩ Dạ nằm cạnh ngay bờ sông Hương êm đềm. Vì thế mà từ cách tả
cảnh làng quê ở khổ đầu đã hé mở tình yêu, tác gỉ chuyển sang tả cảnh sông,
với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong, sầu muộn hư ảo như trong giấc mộng:

                    Gió theo lối gió, mây đường mây
                    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
                    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Gió và mây đã gợi buồn vì nó trôi nổi, lang thang thì nay lại càng buồn
hơn: gió đi theo đường của gió, mây đi theo đường của mây, gió và mây xa
nhau; không thể là bạn đồng hành, không thể gặp gỡ và sự xa cách của nhà
thơ với người yêu có thể là vĩnh viễn. Phải chăng đây là cảm quan của nhà
thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người
xưa trong cuộc sống. Nỗi buồn về sự chia li, giã biệt đọng lại trong lòng
người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác. Chúng ta không còn
thấy giọng thơ tươi mát đầy sức sống như ở đoạn trước nữa, chúng ta gặp lại
Hàn Mặc Tử – một tâm hồn đau buồn, u uất:

                    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

    Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao với những bông hoa bắp
màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như
Hàn Mặc Tử thì dòng sông trôi lửng lờ của xứ Huế chỉ là “dòng nước buồn
thiu” gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa bắp cũng lay nhè nhẹ trong
một nỗi buồn xa vắng. Sự thay đổi tâm trạng chính là thái độ của những con
người sống trong vòng đời tối tăm, bế tắc. Mặt nước sông Hương êm quá
gợi đến những bến bờ xa vắng, những mảnh bèo trôi dạt lênh đênh của số
kiếp con người. Tâm trạng thoắt vui – thoắt buồn mà buồn thì nhiều hơn, ta
đã gặp rất nhiều ở các nhà thơ lãng mạn khác sống cùng thời với Hàn Mặc
Tử. Ý thơ thật buồn, được nối tiếp trong hai câu sau nhưng với cách diễn đạt
thật tuyệt diệu, thực đấy mà mộng đấy:

                    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                    Có chở trăng về kịp tối nay?

   Tất cả như tan loãng trong vầng trăng thân thuộc của Hàn Mặc Tử. Cảnh
vật thiên nhiên tràn ngập ánh trăng, một ánh vàng sáng loáng chiếu xuống
dòng sông, làm cho cả dòng sông và những bãi bồi lung linh, huyền ảo.
Cảnh nên thơ quá, thơ mộng quá! Và cũng đa tình quá! “Dòng nước buồn
thiu” đã hóa thành dòng sông trăng lung linh, con thuyền khách đã hóa
thành thuyền trăng. Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng
trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng. Ý thơ lồng
trong ngôn ngữ thơ thật là tài hoa, thật là thơ đẹp với xứ Huế mộng mơ. Tác
giả đã lướt bút viết nên những câu thơ nhẹ nhàng, sâu kín nhưng hàm chứa
cả tình yêu bao la, nồng cháy đến vô cùng. Vầng trăng trong hai câu thơ này
là vầng trăng nguyên vẹn của thi nhân trước mảnh tình quê chưa bị phôi
pha. Hàn Mặc Tử rất yêu trăng nhưng vầng trăng ở các bài thơ khác không
giống thế này. Một ánh trăng gắt gao, kì quái, một ánh trăng khêu gợi, lả lơi:
                    Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
                    Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô.
hay:
                    Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
                    Đợi gió đông về để lả lơi.
   “Trăng trở thành một khí quyển bao la mọi cảm giác, mọi suy nghĩ của
Hàn Mặc Tử, hơn nữa nó còn lẫn vào thân xác ông”. Nó là ông, là trời đất,
là người ta. Trăng biến hóa vô lường trong thơ ông, khi hữu thế khi vô hình,
khi mê hoặc khi kinh hoàng.
   Trở lại với dòng sông trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ. Ở đây sông là sông
trăng nhưng thi nhân lại xót xa hỏi:

                    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                    Có chở trăng về kịp tối nay?

   Vầng trăng ở đây phải chăng là vầng trăng hạnh phúc và con thuyền
không kịp chở trăng về cho người trên bến đợi? Câu hỏi biểu lộ niềm lo lắng
của một số phận không có tương lai. Hàn Mặc Tử hiểu căn bệnh của mình
nên ông mặc cảm về thời gian cuộc đời ngắn ngủi. Vầng trăng không về kịp
và Hàn Mặc Tử cũng không đợi được vầng trăng hạnh phúc đó nữa, một
năm sau ông vĩnh biệt cuộc đời.
   Nhưng hiện tại, con người còn đang sống và đang tiếp tục giấc mơ:

                   Mơ khách đường xa, khách đường xa,
                   Áo em trắng quá nhìn không ra;
                   Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
                   Ai biết tình ai có đậm đà?

   Trái tim khao khát yêu thương, nhưng nỗi đau kỉ niệm tình yêu ấy, ông
đã gửi tất cả vào những trang thơ. Và rồi tất cả như trôi trong những giấc
mơ ước ao, hi vọng. Màu áo trắng cũng là màu ánh nắng của Vĩ Dạ mà nhìn
vào đó tác giả thấy choáng ngợp, thấy ngây ngất trước sự trong trắng, thanh
khiết, cao quý của người yêu.
   Hình như giữ những giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng
cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ:

                   Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
                   Ai biết tình ai có đậm đà?

   Câu thơ tả thực cảnh Huế, Huế – kinh thành sương khói. Trong màn
sương khói đó có như nhòa đi và có thể tình người cũng nhòa đi? Nhà thơ
không tả cảnh mà tả tâm trạng mình, biết bao tình cảm trong những câu thơ
ấy. những cô gái Huế kín đáo quá, ẩn hiện trong sương khói, trở nên xa vời
quá, liệu khi họ yêu, họ có đậm đà chăng? Tác giả đâu dám khẳng định về
tình cảm của người con gái Huế, ông chỉ hỏi:

                   Ai biết tình ai có đậm đà?

   Lời thơ như nhắc nhở, không phải bộc lộ một sự tuyệt vọng hay hi vọng,
đó chỉ là sự thất vọng của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao
giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn. Bài thơ càng hay càng ngậm
ngùi, nó đã khép lại nhưng lòng người vẫn thẩn thức. Cả bài thơ được liên
kết bởi từ “ai”, mở đầu: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”; tiếp đến
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” và kết thúc: “Ai biết tình ai có đậm đà?”
càng làm cho Đây thôn Vĩ Dạ sương khói hơn, huyền bí hơn.
   Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh và người của miền quê đất
nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà
thơ với nghệ thuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người.
   Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn tươi nguyên, nóng
hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con
người đau thương ấy có sức bay bổng lạ kì” nhưng nó cũng giản dị, trong
sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang
trước một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu,
một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình
thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là
Đây thôn Vĩ Dạ.

[NLVH] Chieu toi


 Nhật ký trong tù là tên tập thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác, khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm trong nhà tù Trung Quốc, từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943. Cuốn nhật ký bằng thơ này ghi lại biết bao điều Người đã chứng kiến và tâm tư của Người trong “mười bốn trăng tê tái gông cùm” ấy. Một trong những bài thơ tức cảnh xinh xắn nhất của tập thơ này phải kể đến bài Chiều tối (Mộ):
       “Chim mỏi cánh về rừng tìm chốn ngủ
       Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
       Cô em xóm núi xay ngô tối
       Xay hết lò than đã rực hồng”
       Nguyên tác là:
       “Quyện điểu quy lâm tầm tức thụ
       Có vân mạn mạn độ thiên không
       Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
       Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
       Dựa vào thứ tự trong tập thơ “Chiều tối” được sáng tác sau ngày nhà thơ bị bắt không bao lâu. Bài thơ thể hiện cảm xúc của Người trong một lần trên đường bị giải đi, lúc trời sắp tối, giữa một miền núi.
       Chiều tối (Mộ) là thời điểm ánh sáng, ban ngày gần tắt hẳn. Lúc này, chân trời bị khuất lấp bởi cây rừng và đá núi nên chút ánh sáng còn lại của phút giây ngày sắp hết có thể thấy được trên đỉnh trời. Do đó, nhà thơ đã đưa mắt lên thật tự nhiên:
       “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
       Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
       Tạo vật lúc này đang chuyển dần sang trạng thái nghỉ ngơi sau một ngày vận động mệt mỏi. Trời tối, những con chim sau một ngày tìm mồi kiếm sống cũng đã cảm thấy uể oải cần phải nghỉ ngơi. Tuy là “chim trời”, những con chim cũng cố tìm về khu rừng nơi có tổ ấm của mình để ngủ qua đêm chứ không thể dừng lại ở bất kì nơi nào được. Hình ảnh cánh chim chập choạng trên trời khoảng trời chiều vốn là một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca:
       “Chim bay về núi tối rồi”
       (Ca dao)
       “Chim hôm thoi thót về rừng”
       (Truyện kiều)
       “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
       (Tràng giang – Huy cận)
       Hình ảnh con chim trở về rừng, không những báo hiệu cho biết ngày đã phôi pha, bóng tối sắp phủ trùm xuống mà con cho thấy rõ thêm tâm trạng của Người tù bị áp giải trên đường, khi ấy là vẫn phải đi, dù muốn dừng bước cũng đâu thế chủ động được, lại không thể có một nơi tạm gọi là tổ ấm để trở về. Hình ảnh ấy cũng làm cho cảm xúc về nỗi xa nhà, xa quê hương, về tình cảm tù tội, mất tự do, thêm sâu sắc hơn, Người đọc nhận ra một nỗi u hoài man mác từ hình ảnh ấy gợi nên.
       Tiếp theo là hình ảnh con chim về rừng là hình ảnh mà nhà thơ bao quát được khi nhìn lên bầu trời khi ấy.
       “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
       Nguyên văn: “Cô vân mạn mạn độ thiên không” nghĩa là đám mây lẻ loio chậm chậm đi qua bầu trời. Giữa bầu trời tĩnh lặng, làn mây che mặt trời cũng uể oải, mệt mỏi, cũng muốn tìm chỗ trú chân. Ngay nhà thơ lúc này cũng không thể khác. Bị giải đi trên đường, chiều tối rồi, Ngưoiừ cũng muốn có chốn nghỉ nhưng biết làm sao được! Cảnh trong hai câu thơ đều thật đẹp và gợi buồn như một bức tranh mực tàu vẽ phác gợi lên nỗi niềm cô quạnh của Người tù xa đất nước, xa quê hương, xa bạn bè và quyến thuộc hiện đang bị trói, bị áp giải. Dù tối rồi, Người vẫn phải tiếp tục cất bước trên đường thẳm tuy là đã mỏi mệt, sau một ngày đi đường khó nhọc. Do đó, có người nhận xét là cảnh trong hai câu thơ vừa tương đồng mà cũng vừa tương phản với cảnh ngộ của nhà thơ.
       Hết nhìn xa, nhìn bao quát, người tù thi sĩ lại nhìn sang bên đường.
       “Cô em xóm núi xay ngô tối
       Xay hết lò than đã rực hộc”
       Nguyên văn:
       “Sơn thôn thiếu nữa ma bao túc
       Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
       Nghĩa là: “Cô gái nhỏ xóm núi xay ngô. Ngô xay xong, lò sưởi đã hồng”, Từ một khung cảnh thiên nhiên quạnh vắng của hai câu thơ đầu, đến đây hai câu thơ tiếp theo, đã là một bức tranh xã hội ấm áp. Đó là hình ảnh một xóm nhỏ, nhà cửa thưa thớt của người dân miền núi. Ở đây có một cô gái nhỏ đang xay ngô, một công việc vất vả nhưng quen thuộc và sau đó ánh đỏ hồng nơi bếp lửa. Tuy chỉ là những hình ảnh bình dị về một cuộc sống thường ngày của những người dân lao động. Sau một ngày làm việc khó nhọc ngoài đồng, họ trở về nhà lo bữa ăn tối và nghỉ ngơi. Những hình ảnh đó tuy chẳng có gì đang để ý, nhưng cũng đã gây được một cảm xúc mãnh liệt cho nhà thơ. Thấp thoáng trong Nhật ký trong tù có ít nhiều hình ảnh về người phụ nữ, thông thường là phải chịu đựng nhiều cảnh không may (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng). Nhưng ở đây là hình ảnh “sơn thôn thiếu nữ” (cô em xóm núi) với bản chất khỏe khắn, rắn rỏi của người lao động đã góp phần khiến cho bức tranh thiên nhiên thêm đầy sức sống. Đặc biệt là hình ảnh “Lô dĩ hồng”, ngọn lửa hồng, xuất hiện trong bóng chiều hôm chập choáng tuy đơn sơ, quen thuộc nhưng cũng thú vị, ấm cúng và đáng yêu xiết bao! Về câu thơ cuối bài, nhà thơ Hoàng Trung Thông nhận xét: Với một chữ “hồng”, bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn ra trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ đường người ta gọi là “con mắt thơ” (Thi nhãn hoặc là nhãn tự (chữ mắt nó sáng bùng lên, nó căn lại, chỉ một chữ thôi với hai mươi bảy chữ khác dẫn đầu nặng đến mấy đi chăng nữa.
       Với chữ “hồng” đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia. Đó là màu đỏ tình cảm Bác
       Thật đúng như thế. Cảnh đang buồn, nhưng với ngọn lửa hồng ấm áp bên bếp gia đình, bỗng hóa vui. Cả tâm trạng nhà thơ cũng từ mệt mỏi, cô quạnh lại ở những cảm xúc thường gặp ở thơ xưa về cảnh chiều tối: một nỗi buồn mênh mang:
       - Quê hương khuất bóng hoàng hôn
       Trên sông khói sóng cho buồn long ai
       “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”
       (Nguyễn du – Truyện kiều)
       Ngờ đâu lại chuyển sang tiếng “reo vui trên ngọn lửa hồng nơi xóm núi” của tâm hồn Bác “quên hẳn mình là một người tù chưa được dừng chân trên con đường dày ải tối tăm
       Như vậy, bài thơ “chiều tối” được nhà thơ Hồ Chí Minh sáng tác trong một hoàn cảnh riêng không có chút gì ấm áp và vui vẻ. Bài thơ tuy tả cảnh “Chiều tối” mà cuối cùng lại sáng. Đúng như nhận xét của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: Bức tranh “Chiều tối” của người lại có được cái ấm áp và niềm vui như thế vì người là một bản lĩnh rất cao, tâm hồn người luôn luôn hướng về sự sống và ánh sáng. Đặc biệt là người có một tấm lòng nhân ái bao la : “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta. Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa. Chỉ biết quên mình cho hết thảy. Như dòng sông chảy nặng phù sa” (Bác ơi. Tố Hữu). Ở đây, Bác đã quên nỗi bất hạnh của riêng mình để vui với cái vui nho nhỏ đời thường của một cô gái vô danh nơi xóm núi vô danh bên bếp lửa hồng ấm cùng. Cao cả biết bao là chủ nghĩa nhân đạo của Hồ Chí Minh.

Phân tích bài thơ “Chiều tối” của HCM để làm nổi bật vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ.


Phân tích bài thơ “Chiều tối” của HCM để làm nổi bật vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ.
Bài làm:
              Chiều tối là bài thơ được viết trong thời điểm gần kết thúc của một chuyến chuyển lao. Bài thơ là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối nơi núi rừng- cảnh đẹp bởi nó ánh lên sự sống ấm áp của con người. Qua đó, bộc lộ một tâm hồn thi nhân nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, một tấm lòng nhân hậu đối với con người, một phong thái ung dung luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Hay nói đúng hơn đây là một thực thể của sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại

                  Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương. Khung cảnh buổi chiều về tối thường dễ sinh tình vì thế, buổi chiều đã đi vào bao áng thơ kim cổ, làm nên những vần thơ tuyệt tác. Thơ chiều cổ điển thường man mác một nỗi buồn đìu hiu, hoang vắng trong sự tàn tạ của thời gian, hoặc trĩu nặng nỗi buồn tha hương lữ thứ. Ơû đây bằng vài nét chấm phá của bút pháp ước lệ tượng trưng tác giả đã dựng nên bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều.
                        Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
                         Cô vân mạn mạn độ thiên không;
                        (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
                        Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)
“Cánh chim” và “chòm mây” là hai hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong thơ chiều xưa và nay. Cho nên, đó chỉ là hai hình ảnh của không gian mà đã mang theo ý nghĩa của thời gian. Cánh chim ở đây được lấy từ thế giới nghệ thuật cổ phương Đông. Trong thế giới thẩm mỹ ấy, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít nhiều có ý nghĩa biểu tượng ước lệ diễn tả cảnh chiều: “Phi yến thu lâm”; “Quyện điểu quy lâm” là những nhóm từ thường thấy trong thơ chữ Hán. Trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả cảnh chiều, Nguyễn Du đã điểm vào bức tranh hình ảnh cánh chim bay về rừng: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Trong thơ Bà Huyện Thanh Quan cũng thế: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” và Huy Cận lại cảm thấy bóng chiều như đang sà xuống từ cánh chim đang nghiêng dần về cuối chân trời: “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình như trong cảm nhận của các thi nhân xưa thì khi miêu tả cảnh chiều mà không có hình ảnh cánh chim thì bóng chiều chưa rõ.
                  Cánh chim trong thơ xưa thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần tuý để gợi tả cảnh chiều thế thôi và thường gợi nên cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa:
                        “Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
                        “Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
chúng ta đều nhận thấy cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên đều “Phi tuyệt”, “Phi tận”. Tất cả đều không có điểm dừng mà ở vào trạng thái bay vào chốn xa xăm, vô tận, gợi lên một ý niệm siêu hình nào đó. Còn cánh chim trong bài thơ “Chiều tối” của Bác lại có phương hướng, điểm dừng, mục đích bay rõ ràng:
                        Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
                        (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ)
như vậy Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới hiện thực. Ta nhận thấy trong cách nhìn của Bác là một cách nhìn đầy yêu thương, trìu mến trước biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Nhìn cánh chim đang bay, Bác cảm nhận được sự mệt mỏi của đôi cánh sau một ngày đường hoạt động. Trong chiều sâu tâm hồn của Bác chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan của Bác chính là cảm quan nhân đạo.
                  Câu thơ thứ  hai cũng mang đậm nét Đường thi. Nó rất gần với câu thơ: “Cô vân độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở thành một mô tuýp quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh cao, sự phiêu diêu, thốt tục và nỗi khắc khoải của con người trước cõi hư không. Còn trong bài “Chiều tối” của Bác, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua bầu trời chỉ là một nét vẽ tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều nơi miền rừng núi. Bầu trời hôm ấy phải thật cao, thật trong xanh ta mới thấy được hình ảnh chòm mây cô độc ấy gợi nên hình ảnh cô độc nơi đất khách, quê người của Bác. Mỗi một chi tiết của cảnh chiều đều nhuốm màu tâm trạng. Cánh chim mỏi tìm về tổ ấm, còn người tù thì mệt mỏi sau một ngày đường mà vẫn chưa có được chỗ dừng chân. Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ trên tầng không, còn người tù thì cô đơn giữa một buổi chiều nơi đất khách. Hai câu thơ đạt đến mức vi diệu của lối tả cảnh ngụ tình. Ơû đó ta bắt gặp một tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên và sự sống. Từ đó ta thấy được một nghị lực phi thường và đó cũng chính là chất thép trong thơ của Bác.
                  Nếu như ở hai câu thơ đầu bằng bút pháp cổ  điển Bác đã dựng nên bức phông lớn làm nền cho bức tranh, thì trong hai câu thơ sau, Bác tập trung làm nổi bật hình tượng trung tâm của bức tranh. Từ bút pháp cổ điển Bác chuyển hẳn sang bút pháp hiện đại.
                        Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
                        Bao túc ma hồn, lô dĩ hồng
                        (Cô em xóm núi xay ngô tối,
                        Xay hết lò than đã rực hồng)
“xóm núi” là hình ảnh giản dị biểu tượng cho sự sống bình yên của con người. Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn với hình ảnh người thiếu nữ. Vẻ đẹp trẻ trung đầy sức sống của người thiếu nữ với tư thế lao động (xay ngô) trở thành tâm điểm của bức tranh thiên nhiên buổi chiều. Điều đáng lưu ý ở đây là hình tượng người thiếu nữ trong thơ Bác hồn tồn khác với hình tượng người thiếu nữ trong thơ xưa. Người phụ nữ trong thơ xưa thì thường được ví như  “Liễu yếu đào tơ” và sống trong cảnh  “Phòng khuê khép kín”, chỉ biết “cầm, kì, thi, hoạ” là đủ. Còn người thiếu nữ trong thơ Bác thì gắn liền với công việc lao động bình dị, đời thường, khỏe khoắn đầy sức sống. Phải chăng chính cái sức sống ấy của người thiếụ nữ đã làm nên vẻ đẹp lung linh cho bức tranh.
                  Trong thơ xưa, những bức tranh vẻ cảnh chiều đều có bóng dáng con người nhưng sao lẻ loi, cô độc và hiu hắt quá. Con người ở đây mang nặng một nỗi niềm hồi cổ, một nỗi sầu muộn:
                        “Lom khom dưới núi tều vài chú,
                        Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
                                                                        (Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)
hay:
                        “Gác mái ngư ông về viễn phố,
                        Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
                                                            (Chiều Hôm Nhớ Nhà - Bà Huyện Thanh Quan)
còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống. Chính hai từ “thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái miệt mài xay ngô và hình như cô không chú ý đến những gì xung quanh mình. Cối xay vẫn cứ quay và quay tít “ma bao túc” rồi “bao túc ma” và khi ngô đã xay xong “bao túc ma hồn” thì cô mới nhìn thấy “lò than đã rực hồng”. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” hiện lên trong đêm tối càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Tồn bộ cảnh thiên nhiên đang chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt. Bài thơ kết thúc bằng chữ “hồng”, có thể nói đó chính là chỗ đẹp nhất của bài thơ. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan. Chữ “hồng” đặt ở cuối bài thơ soi rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều tối nơi rừng núi.
                  Hai câu thơ đã cho ta thấy được cái nhìn ấm áp đầy yêu thương, trân trọng của Bác đối với con người lao động. Buổi “Chiều tối” nơi miền rừng núi quạnh hiu, hoang vắng, lẽ ra rất đỗi buồn bã, thê lương trước mắt người tù bị xiềng xích, bị giải đi với biết bao nỗi gian lao vất vả, nhưng trái lại đó là tiếng reo vui. Chữ “hồng” ở cuối bài đã làm nên tiếng reo vui ấy, tạo cho bài thơ âm hưởng nồng ấm, dạt dào.
            
 “Chiều tối” là một tác phẩm đậm đà màu sắc cổ điển mà cũng rất hiện đại, thể hiện một cách tự nhiên và phong phú vẻ đẹp của hình ảnh người tù – thi sĩ, người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của Bác. Điều đặc biệt ở đây là cảm quan thiên nhiên của Bác gắn liền với cảm quan nhân đạo, cảm quan về sự sống.

Cảm nhận về bài thơ Từ Ấy của TH [2]



Trong những năm tháng dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh, rất nhiều nhà thơ đã giác ngộ chân lý của Đảng, của Cách mạng Việt Nam, từ đó đã cho ra đời những bài thơ mang đậm khí thế hiên ngang, anh dũng. Một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền Văn học kháng chiến chống Pháp chính là nhà thơ Tố Hữu, mà sự giác ngộ Cách mạng của ông được thể hiện qua bài thơ "Từ ấy".

Bài thơ "Từ ấy" được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của Tố Hữu . Bài thơ nói lên niềm vui sướng hạnh phúc của một thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng của Đảng, thấy gắn bó với nhân dân cần lao.

"Từ ấy" mang một ý nghĩa phiếm đinh về mặt thời gian ... Đó là khi tâm trạng của nhà thơ trong giây phút giác ngộ lí tưởng cộng sản .", là mốc son đánh dấu bước ngoặt, lối rẽ mới trong cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu , đối với ông " từ ấy " là một thời gian rất cụ thể, ông đã xác định được con đường đúng đắn mà mình phải đi và cũng chính từ đấy , lý tưởng cách mạng đã soi sáng tâm hồn ông , đã giúp ông tìm được lối đi đúng đắn cho cuộc đời ... mà trước đây , ông đã từng lạc lối.Trong buổi ban đầu, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến "băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời".Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ ,nhà thơ được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin ,người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng, như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc.

Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một bài thơ: "Con lớn lên, con tìm Cách mạng – Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi - Mẹ không còn nữa, con còn Đảng. Dìu dắt khi con chửa biết gì"(Quê mẹ).

1.Hai câu đầu là niềm say mê náo nức của nhà thơ khi đón nhận lí tưởng Cách mạng

" Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim"

-Từ ấy: dấu ấn quan trọng đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời người thanh niên Tố Hữu

-"Bừng nắng hạ", "Mặt trời chân lý", "Chói qua tim" : hình ảnh ẩn dụ

+ "Bừng" : ánh sáng phát ra bất ngờ đột ngột, bao kín đôi mắt nhà thơ

+ "Chói" : ánh sáng có sức xuyên thấu mạnh mẽ, ánh nắng toả sáng rực rỡ , chói chang bắt nguồn từ mặt trời chân lý -lý tưởng cách mạng ,soi sáng trong lòng tác giả

Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu" bừng nắng hạ" đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí

"Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lí tưởng Cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa Cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã "chói qua tim", đem lại ánh sáng cuộc đời như "bừng" lên trong "nắng hạ" - Một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng:. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã "chói" vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào.

"...Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim..."

Hồn tôi - Vườn hoa lá: Hình ảnh so sánh ? Tố hữu sung sướng lí tưởng Cộng sản cũng như cỏ cây đón nhận ánh sáng mặt trời. Lí tưởng đã mang lại sức sống và niềm tin yêu cuộc đời cho tất cả mọi người, lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại.

"Hồn" người đã trở thành "vườn hoa", một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Khiến cho đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà nhất

Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại .Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. :

2. Lời tự nguyện của nhà thơ khi giác ngộ lí tưởng Đảng

Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người

"Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải khặp muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời"

- Động từ "buộc", "trang trải": những hành động có tính tự nguyện .

"Buộc" và "trang trải"là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. "Buộc" là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam

-"Lòng tôi ","tình ","hồn tôi"gắn liền với "mọi người ","trăm nơi","bao hồn khổ" , sự gắn bó đồng cảm sâu xa giữa cái tôi riêng và cái ta chung ,giữa tấm lòng nhà thơ với khối đời chung của nhân dân lao động .

"Để tình trang trải với trăm nơi"

Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, "trang trải"-"trăm nơi" biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: "Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng"., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh.

-"Bao hồn khổ": tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, "để" gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với "đại gia đình" đang trong cảnh lầm than.

-"Khối đời": danh từ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể.

=> Nhấn mạnh lần nữa mối ân tình giữa tác giả với muôn dân, khẳng định cuộc sống bản thân nhà thơ không có sự riêng biệt, mà chỉ là một phần tử nhỏ chan hòa và giao cảm với những mảnh đời còn lại.

3.Sự khẳng định của nhà thơ


"Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm ,cù bất cù bơ."

-"đã là", "là con","là em", "là anh": tình cảm đầm ấm ,thân thiết, gắn bó và gần gũi

- Đối tượng :"vạn nhà ", "vạn kiếp phôi pha", "vạn đầu em nhỏ ": quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa.

-Điệp từ "là" gắn với những đại từ quan hệ thân thuộc, trìu mến, một mặt thể hiện mối quan hệ tự nhiên mà gắn bó sâu sắc, mặt khác ngầm khẳng định nhiệm vụ, vai trò lớn lao của người thanh niên đối với cộng đồng, xã hội .

"Cù bất cù bơ": tính từ khá mới lạ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hòan cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ.

Sự chuyển biến trong tâm trạng của Tố Hữu: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ . Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ. Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người "than bụi, lầy bùn"là lực lượng tiếp nối của "vạn kiếp phôi pha", là lực lượng ngày mai lớn mạnh của "vạn đầu em nhỏ",để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ "là" được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.

Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, "Từ ấy" đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.

4. Nghệ thuật

-Sử dụng biện pháp tu từ : ẩn dụ ,so sánh , diệp từ

-Thể thơ thất ngôn, 1 thể thơ truyền thống

-Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp diệu

-Sự đa dạng của bút pháp tự sự, lãng mạn, trữ tình.

Tổng kết:

Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỷ 20. Tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng, cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là "cõi tạm". Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng.Nhà thơ Cách mạng ấy , cùng biết bao nhà thơ khác đã từng lac lối giữa cuộc đời , giữa sự lựa chọn lớn lao , cống hiến cuộc đời , tuổi trẻ cho Cách Mạng . Nhưng " từ ấy " , nhà thơ đã tìm được lối đi cho mình khi giác ngộ lý tưởng cộng sản...

Bài thơ "Từ ấy" là tâm niệm của một người thanh niên yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng. Nó thể hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức và tình cảm mới của Tố Hữu khi có ánh sáng lý tưởng cách mạng soi rọi. Sự vận động ấy của tâm trạng nhà thơ được thể hiện bằng những hình ảnh tươi sáng, rực rỡ; các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhịp điệu."Từ Ấy" là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản.

Cảm nhận về bài thơ Từ Ấy của TH [1]



 Khi nhắc đến nhà thơ trữ tình chính trị hàng đầu của thơ ca Việt Nam , hẳn ai cũng biết đến Tố Hữu . Ông là nhà văn lớn , nhà thơ lớn của dân tộc , là cây bút xuất sắc của cách mạng Việt Nam . Thơ ông biểu hiện về lẽ sống lớn , tình cảm lớn , niềm vui lớn của người cách mạng . Đặc biệt , thơ ông đi sâu khai thác đời sống chính trị của đất nước tới tâm tư , tình cảm , cuộc đời hoạt động cách mạng của bản thân . Một trong những bài thơ biểu hiện rõ nhất cuộc đời cách mạng của ông là bài thơ : Từ Ấy .
              "Từ Ấy " là bài thơ rất hay , đặc biệt bởi đây là bài thơ đánh dấu cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà thơ . THáng 7 năm 1938 , Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương . Ghi nhận kỉ niệm đáng nhớ ấy với cảm xúc , suy tư sâu sắc Tố Hữu viết nên "Từ Ấy " . Bài thơ nằm trong phần " Máu Lửa " của tập "Tư Ấy " . Bài thơ là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng cộng sản . Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng , các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu .
                                             " Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
                                                Mặt trời chân lí chói qua tim "
              Đó chính là giây phút ông nhận ra lẽ sống lớn , là giây phút " Mặt trời chân lí chói qua tim " . Bắt gặp được lẽ sống , lí tưởng cách mạng soi sáng , chỉ đường , làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ . Với những hình ảnh ẩn dụ : nắng hạ , mặt trời chân lí , chói qua tim . Tố Hữu đã khẳng định một lí tưởng cách mạng : Đảng là mặt trời chân lí tỏa ra lẽ phải, sự đúng đắn , soi đường đưa cả dân tộc thoát khỏi ách nô lệ . Cũng như mặt trời của tự nhiên ,, tạo hóa tạo ra sức sống , ánh sáng , tỏa hơi ấm cho vạn vật . Bên cạnh đó , bằng cách sử dụng những động từ mạnh : bừng , chói . Tác giả muốn nhấn mạnh lên một điều rằng : ánh sáng cách mạng chính là ánh sáng chân lí , đã làm thức tỉnh lòng yêu nước nồng nàn trong lòng mỗi người con dân tộc Việt .
                                                 " Hồn tôi là một vườn hoa lá
                                                    Rất đậm hương và rộn tiếng chim "
              Chính giây phút bắt gặp lí tưởng cách mạng cũng là giây phút của hương thơm và ánh sáng . Tố Hữu đón nhận lí tưởng như cỏ cây , hoa lá , đón nhận ánh sáng mặt trời . Trong khi băn khoăn tìm kiếm lẽ đời , tác giả đã bắt gặp ánh sáng cách mạng . Được giác ngộ lí tưởng cao đẹp của Đảng , tác giả thêm tràn đấy sức sống , thêm yêu đời , thêm yêu người . Và nó cũng khiến tâm hồn nhà thơ thêm kiên định và thêm tràn đầy niềm tin với tâm trạng say sưa , náo nức , rộn ràng của một trái tim nhiệt huyết .
              Bên cạnh đó , tác giả còn sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngư dân tộc . Bằng cách sử dụng thể thơ thất ngôn , làm âm điệu trở nên trạng trọng . Cách ngắt nhịp trong bài tạo ra tính nhạc : Từ ấy / trong tôi / bừng nắng hạ ... làm cho bài thơ thêm hay , thể hiện đúng tâm trạng của nhà thơ ,
                                                  " Tôi buộc hồn tôi với mọi người
                                                     Để tình trang trải với trăm nơi
                                                     Để hồn tôi với bao hồn khổ
                                                     Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời "
              Khổ thơ thứ hai thể hiện rõ nhất cái tôi trữ tình . Là cái tôi mang giai cấp thời đại , đại diện cho dân tộc . " Tôi buộc hồn tôi với mọi người " chính là sự hài hòa giữa cái tôi và cái ta , giữa cá nhân và tập thể để từ đó mở lòng mình , đồng cảm với mọi người xung quanh . Từ đó tạo nên tính đoàn kết , sức mạnh tập thể . Đặc biệt là quần chúng nhân dân lao động cùng nắm tay đoàn kết lại thành một khối để vượt qua mọi khó khăn gian khổ .
                                                        " Tôi đã là con của vạn nhà
                                                           Là em của vạn kiếp phôi pha
                                                            Là anh của vạn đầu em nhỏ
                                                            Không áo cơm cù bất cù bơ..."
              Đoạn cuối cùng hiện lên như khẳng định , nhấn mạnh một tình cảm gia đình đầm ấm , thắm thiết . Đó chính là một đại gia đình lớn của quần chúng nhân dân lao động . Mà trong đó tác giả là con , là em , là anh của đại gia đình đó . Tấm lòng của tác giả đã hòa vào tấm lòng đại gia đình dân tộc . Thấu hiểu và chia sẻ tấm lòng đó biểu hiện thật xúc động và chân thành . Từ đấy , ta thấy được tấm lòng căm phẫn của nhà thơ trước cuộc đời ngang trái . Tác giả xót thương cho những số phận của " vạn kiếp phôi pha " , của những em nhỏ không có áo cơm , "cù bất cù bơ..." . Ông mở lòng đón nhận những kiếp người đau khổ , nhân dân cần lao như đón nhận một cách chân thành những người thân ruột thịt . Câu " Không áo cơm cù bất cù bơ..." để lại ba dấu chấm lửng như tấm lòng của tác giả trải rộng ra , mở long mình với bao hồn khổ . Bài thơ rất đặc biệt không chỉ về ý thơ mà còn cả về tứ thơ . Tác giả dùng thể thơ truyền thống , sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh , nhạc điệu làm nổi bật tâm trạng của nhà thơ .
              Là lời tâm nguyện của chàng thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng cách mạng của Đảng và Bác Hồ . Đồng thời đó cũng là tâm nguyện gắn bó với nhân dân lao khổ . Và bài thơ cũng chính là mốc thời điểm mở đầu cho cuộc đời hoạt động cách mạng của Tố Hữu . Bằng lời thơ giàu cảm xúc , suy tư theo lí tưởng cách mạng . Đó chính là chất lãng mạn của thi ca Việt Nam.