Chủ Nhật, ngày 06 tháng 5 năm 2012

Phân tích bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” của cụ Phân Châu trinh

Phân Châu Trinh (1872 - 1926) quê ở Quảng Nam, biệt hiệu là Hi Mã. Cụ là một trong những chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của nước ta trong ba thập niên đầu thế kỉ XX.
Cụ để lại nhiều thơ văn yêu nước và cách mạng. Cụ là chiến sĩ tiên phong nêu cao ngọn cờ duy tân… mở mang dân trí, tự cường, chống thực dân và bọn vua tay sai:

“Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền
trông gió cũng gai ghê;
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ
khâu đèn thêm sáng chói”.
(“Văn tế Phan Châu Trinh” - Phan Bội Châu)
Bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” là một phần trích trong tác phẩm “Đạo đức và luân lí Đông Tây” của Phân Châu Trinh viết năm 1925.
Chúng ta có thể coi đây là một văn bản bình luận về một vấn đề chính trị -  xã hội, một vấn đề mang tính lịch sử bức thiết của nhân dân ta thời bấy giờ.
1. Phần đầu văn bản, cụ Phan nêu lên vấn đề: “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”. Hai chữ “tuyệt nhiên” là cách nói khẳng định của tác giả. Khái niệm“luân lí xã hội” tức là luân lí, đạo đức của chủ nghĩa xã hội coi trọng sự bình đẳng và ý thức nhân quyền, không chỉ thể hiện mối quan hệ của con người trong mỗi gia đình, trong mỗi quốc gia mà còn là mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội rộng lớn.
Cụ Phan bình luận: “Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được”. Còn tư tưởng “bình thiên hạ” trong câu: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng Mạnh thì “mất đi đã từ lâu rồi”. Hai tiếng “võ vẽ” trong câu: “Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó (hai chữ “thiên hạ”) nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đấy thôi” đã thể hiện thái độ châm biếm, khinh bỉ đối với bọn đạo đức giả trong xã hội thực dân phong kiến.
2. Phần thứ hai, Phân Châu Trinh chứng minh và bình luận thực trạng luân lí, đạo đức của xã hội ta thời bấy giờ (thời Pháp thuộc).
- Tác giả cho biết xã hội luân lí bên châu Âu rất thịnh hành và phát triển. Về mỗi người dân đều “có đoàn thể”, có ý thức về nhân quyền (dân chủ và bình đẳng) đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Còn dân mình thì “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai!” Thật đáng buồn là dân ta đi đường gặp người bị nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua”…
+ Sống thì phải biết bênh vực nhau. Ông cha mình ngày xưa đã hiểu đến nên mới có những câu tục ngữ: “Không ai bẻ đũa cả nắm”,”Nhiều tay làm nên bộp”. Tác giả dùng lập luận tương phản để nêu lên hiện tượng đáng buồn của dân ta.
“Thế thì dân tộc Việt Nam ngay hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, gom cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay”.
+ Tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự thoái hoá luân lí xã hội ở nước ta trong ba bốn trăm năm trở về đây là do bọn học trò (tầng lớp kẻ sĩ, trí thức trong xã hội phong kiến, trong chế độ thực dân nửa phong kiến) gây ra: mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa, giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân. Chúng tham lam, hám địa vị “muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân”.
+ Đám quan trường bị tác giả “phơi mặt”, lên án một cách nghiêm khắc. Chúng vô trách nhiệm và coi thường nhân dân. Chúng ra sức vơ vét làm giàu. Chúng ham mồi phú quý. Cụ Phan Châu Trinh đã tạo nên những câu cảm thán, sử dụng tài tình điệp ngữ và tăng cấp làm cho lí lẽ sắc bén, giọng văn khinh bỉ sâu cay:
“Dân khốn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi, “một nhà làm quan một nhà có phước”, “dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai”. Đạo đức suy đồi đến cùng cực, bọn hãnh tiến, bọn cơ hội nhan nhản đó đây: “Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được”.
Bọn quan lại ấy là lớp người như thế nào? Hoặc là bọn Nho học “đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ”. Hoặc là bọn Tây học “đã được cái chức kí lục, thông ngôn; có khi là bồi bếp dựa vào thần thế của chủ cũng gây ra làm quan nữa”. Đầu thế kỉ XX, tác giả bài thơ “Á tế Á ca” đã châm biếm viết:
“Kẻ chức bồi, người tước cu li,
Thông ngôn, kí lcụ chi chi,
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang!”
Hai ba mươi năm sau Phan Châu Trinh đã khinh bỉ gọi đám quan trường ấy là “lũ ăn cướp có giấy phép”. Lũ tham quan ô lại trong xã hội thực dân phong kiến đã bị cụ giáng cho một đòn trí mạng, làm cho “nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê!”
Một thực trạng đáng buồn nữa là có không ít người trong xã hội cũng “bén mùi làm quan”Có bài ngà, có Bắc đẩu bội tinh đeo lủng lẳng trước ngực thì lấy thế làm vinh, chạy chọt được cái Cửu phẩm, thì nở mày nở mặt, mổ trâu bò ăn khao! Vì thế, anh nhiêu, ông xã, những kẻ ở vườn “Nào lo cho quan,nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi”.
Vì thế nền đạo đức, luân lí sao không khỏi băng hoại. Nhà cách mạng cay đắng cất lời than:“Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế”. Những lời cảm thán cất lên vừa đau buồn, cay đắng, vừa chua xót!
3. Phần cuối văn bản, Phan Châu Trinh đưa ra hướng chữa trị căn bệnh “luân lí xã hội ở nước ta”: phải có đoàn thể, phải truyền bá xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã dùng cách lập luận móc xích làm cho lí lẽ sắc bén, thuyết phục: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”.
Sau hơn tám mươi năm (1925 - 2007) đọc bài “Về luân lí xã hội ở nước ta”, ai cũng cảm thấy mình đang được tham dự buổi diễn thuyết của cụ Phan Châu Trinh vào  tháng 11 năm 1925 tại Sài Gòn.
Bút pháp nghị luận của Phan Châu Trinh thật đặc sắc: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, mọi dẫn chứng nêu ra thật chí lí, đích đáng đầy sức thuyết phục. Tác giả đã dùng lời lẽ và giọng văn chua cay để châm biếm thực trạng luân lí xã hội ở nước ta thời bấy giờ. Bọn quan trường đã bị giáng những đòn đau điếng.
Đọc bài văn của Phan Châu Trinh, ta càng thấy rõ công việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, cuộc sống mới là vô cùng cấp thiết và quan trọng. Đạo đức là cái gốc của con người; luân lí là nền tảng của xã hội. Có đả phá được những tư tưởng hủ lậu, có xây dựng được nền luân lí, đạo đức xã hội chủ nghĩa thì mới có thể làm cho đất nước phát triển, giàu mạnh, và làm cho dân tộc Việt Nam ngày một văn minh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét